Đánh giá của bạn về cổng thông tin điện tử
63 người đã bình chọn
1438 người đang online

Quá trình hình thành và phát triển của cơ quan làm công tác dân tộc tỉnh Thanh Hóa

100%

Cơ quan công tác dân tộc tỉnh Thanh Hóa - với tổ chức tiền thân là Ủy ban hành chính đặc biệt miền thượng du tỉnh Thanh Hóa. 70 năm qua với chức năng nhiệm vụ là cơ quan tham mưu cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh về công tác dân tộc và chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh. Khái quát quá trình xây dựng và phát triển của cơ quan công tác dân tộc tỉnh Thanh Hóa qua các thời kỳ sau:

1. Uỷ ban hành chính đặc biệt miền thượng du và Đảng uỷ Dân chính miền Tây (1947 - 1954)

Những ngày đầu của Nhà nước Việt nam dân chủ cộng hòa, trong bối cảnh ngàn cân treo sợi tóc: Thù trong, giặc ngoài, giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm đe dọa. Ở vùng miền núi phía Tây của Thanh Hoá quân Pháp từ Lào sang, cùng với bọn Lang đạo phản động liên kết với nhau để thiết lập “hành lang Đông - Tây” nhằm chờ thời cơ đánh vào trung tâm tỉnh lỵ và làm hậu thuẫn cho quân Pháp tại chiến trường Tây Bắc, Thượng Lào, Điện Biên Phủ. Trong khi đó lực lượng cách mạng và cơ sở cách mạng của ta còn mỏng, giác ngộ cách mạng của nhân dân các dân tộc còn nhiều hạn chế, uy thế của Thổ ty, Lang đạo còn lớn trong nhân dân.

Trước tình hình đó, nhân dịp lần đầu tiên vào thăm Thanh Hoá, ngày 20-2-1947, Bác Hồ đã có thư gửi đồng bào thượng du, động viên đồng bào các dân tộc "ra sức đoàn kết, chuẩn bị tham gia giết giặc cứu nước”. Xuất phát từ vị thế chiến lược quan trọng của các huyện miền núi, không chỉ với tỉnh Thanh Hóa mà còn đối với cả nước và trước tình hình chung của cuộc kháng chiến kiến quốc, ngày 04-4-1947, Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 41-SL về việc thành lập Ủy ban hành chính đặc biệt miền thượng du Thanh Hóa, tiền thân của cơ quan Ban Dân tộc ngày nay, để thực hiện các nhiệm vụ: “Giúp Uỷ ban hành chính tỉnh Thanh Hóa giải quyết các công việc ở sáu châu miền thượng du tỉnh Thanh Hoá; Động viên dân chúng để chuẩn bị kháng chiến; Đốc xuất việc tăng gia sản xuất; Phát triển bình dân học vụ”.

Thực hiện Sắc lệnh 41-SL, cùng với UBHC đặc biệt miền thượng du, Thường vụ Tỉnh ủy Thanh Hóa đã ra quyết định thành lập Đảng ủy dân chính miền Tây, là cơ quan lãnh đạo trực tiếp và cùng với UBHC đặc biệt thượng du vận động, đoàn kết, xây dựng lực lượng kháng chiến ở 6 châu.

Bộ máy của Uỷ ban hành chính đặc biệt miền thượng du có các bộ phận theo dõi, chỉ đạo chiến đấu, sản xuất, dân sinh…Ban dân quân thượng du, Phân ty bình dân học vụ, Phân ty thông tin tuyên truyền, Công ty Thanh Thượng được thành lập và hoạt động dưới sự chỉ đạo của Uỷ ban hành chính đặc biệt thượng du.

Thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình, tháng 3/1949 Đảng uỷ Dân chính miền Tây và UBHC đặc biệt thượng du đã tổ chức Đại hội kháng chiến tại xã Phùng Giáo, huyện Ngọc Lặc. Qua  tổ chức Đại hội, đồng bào các dân tộc thấy được sự lớn mạnh của lực lượng cách mạng, thực sự có chỗ dựa vững chắc để hăng hái sản xuất, chiến đấu, xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng.

Những năm (1948- 1949), quân Pháp từ Lào tiến thẳng vào đánh chiếm các xã biên giới các huyện: Quan Hoá, Lang Chánh, Thường Xuân và tìm mọi cách mở rộng xuống phía Tây Nam nhằm làm chủ phía Tây biên giới Việt - Lào. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng uỷ Dân chính miền Tây và Uỷ ban hành chính đặc biệt thượng du, nhiều con em các dân tộc thiểu số đã tích cực tham gia bộ đội, dân quân du kích địa phương. Mục tiêu của thực dân Pháp là "Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" nhưng đi đến đâu chúng cũng gặp "Vườn không nhà trống” và những trận đánh du kích bất ngờ bằng các loại vũ khí truyền thống của đồng bào các dân tộc như: Bẫy đá, súng kíp, chông tre,v.v.... đã tiêu hao nhiều lực lượng của thực dân Pháp. Các điểm chốt của Pháp ở Nam Xuân, Nam Động, Phú Nghiêm (huyện Quan Hóa) bị quân và dân ta áp đảo buộc chúng phải rút lui. Các đồn của Pháp ở Cổ Lũng (Bá Thước), Yên Khương (Lang Chánh), Bát Mọt (Thường Xuân) bị quân và dân ta tấn công, tiêu diệt gọn. Toàn bộ chiến lược hành lang Đông - Tây của Pháp ở vùng thượng du bị phá tan. Âm mưu lập khu "Thái tự trị”,  “Mường tự trị " bị thất bại hoàn toàn. Đồng bào và cán bộ chiến sĩ vùng miền núi và dân tộc tỉnh Thanh Hóa có quyền tự hào về những chiến công thắng lợi đó, niềm tin tưởng tuyệt đối vào Đảng cộng sản và đường lối chính sách dân tộc của Đảng và Bác Hồ được củng cố nâng cao. Đảng ủy Dân chính miền Tây và UBHC đặc biệt thượng du có vai trò quyết định quan trọng về tổ chức đoàn kết và xây dựng lực lượng ngày càng vững mạnh trên chặng đường kháng chiến trường kỳ của dân tộc.

Cùng với những chiến công lớn về quân sự,  trên mặt trận  chính trị, xây dựng và giữ chính quyền non trẻ ở miền Tây, Đảng uỷ Dân chính miền Tây và UBHC đặc biệt thuợng du  đã tập trung, chú trọng xây dựng  các tổ chức quần chúng, cơ sở chính trị vững mạnh, vận động nhân dân đẩy mạnh phong trào diệt giặc giốt, phong trào tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm. Cùng với “Tiền phương” công tác dân tộc tích cực góp phần về mọi mặt, xây dựng hậu phương- miền núi phía Tây tỉnh Thanh giữ vững vị trí căn cứ địa cách mạng quan trọng, hậu phương lớn cho chiến trường Điện Biên Phủ.

Bước vào chiến dịch Điện Biên Phủ, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Đảng ủy Dân chính miền Tây và UBHC đặc biệt thượng du, đồng bào các dân tộc tiếp tục động viên hàng ngàn con em vào bộ đội đi các chiến trường, đóng góp hàng triệu cây luồng, hàng ngàn mét khối gỗ làm lán trại, kho tàng, cầu cống phục vụ kháng chiến; huy động hàng vạn người đi dân công tiếp vận và tiếp tục chiến đấu với các toán biệt kích của địch trên địa bàn giữ vững đường dân công, tiếp vận của quân và dân ta cho chiến trường Điện Biên Phủ, góp phần xứng đáng vào chiến thắng vĩ đại- Điện Biên Phủ.

Lãnh đạo Ủy ban đặc biệt Thượng du và Đảng ủy Dân chính miền Tây thời kỳ này là các ông: Năm 1947, Chủ tịch là Lê Xuân Kỳ (lang đạo); Phó Chủ tịch là ông Phạm Thúc Tiêu. Tháng 7 năm 1948, Chủ tịch là ông Phạm Thúc Tiêu, Phó Chủ tịch là ông Phạm Văn Bỉnh (đặc phái viên của Bộ Nội vụ). Năm 1948, Trưởng ban là ông Trần Linh Sơn; Phó ban là ông Lê Hữu Khai. Từ năm 1948 - 1949, Trưởng ban là ông Lê Đình Sằn (Thường vụ Tỉnh ủy); Phó ban là ông Lê Hữu Khai. Từ năm 1949 - 1950, Trưởng ban là ông Lê Hữu Khai (Thường vụ Tỉnh ủy); Phó ban là ông Lê Huy Hiệu. Từ năm 1950 - 1951, Trưởng ban là ông Lê Hồng Trênh (Tỉnh ủy viên); Phó ban là ông Lê Huy Hiệu. Từ tháng 10/1951 - 3/1954, Trưởng ban là ông Vương Trọng Hàng (Thường vụ Tỉnh ủy); Phó ban là các ông: Lê Huy Hiệu, Phạm Văn Nỉnh. Từ tháng 4 năm 1954 - 1960, Trưởng ban là ông Nguyễn Đức Nhuận (Thường vụ Tỉnh ủy); Phó ban là các ông: Hà Văn Miêng và Lưu Trần Nhuệ.

2. Uỷ ban hành chính đặc biệt miền thượng du và Ban cán sự miền Tây (1955 - 1960)

Từ năm 1955,  Đảng ủy Dân chính miền Tây được thay thế bằng tên gọi mới là Ban Cán sự miền Tây. Ban Cán sự miền Tây và UBHC đặc biệt thượng du đã tiếp tục phát động đồng bào các dân tộc thi đua sản xuất, tích cực hàn gắn vết thương chiến tranh, thực hiện phong trào hợp tác hoá. Do đó, chỉ trong thời gian ngắn phong trào khai hoang, phục hóa, làm thuỷ lợi, thâm canh tăng vụ đã lan rộng khắp núi rừng miền Tây. Sản lượng lương thực tăng nhanh, chăn nuôi, nghề rừng có bước phát triển toàn diện. Trong giai đoạn này các trường cấp I, cấp II bắt đầu được xây dựng và mở rộng đến nhiều xã, trường phổ thông cấp III được mở tại 3 huyện: Thạch Thành, Cẩm Thuỷ, Ngọc Lặc; trung tâm huyện Ngọc Lặc có Trường thanh niên dân tộc, Trường Sư phạm 7 + 2, Trường trung cấp nông nghiệp và Trường Đảng đào tạo cán bộ cho khu vực miền núi; bệnh viện được xây dựng ở các huyện: Ngọc Lặc, Cẩm Thuỷ, Thạch Thành, Quan Hóa. Các trạm y tế xã được xây dựng để phục vụ yêu cầu chăm sóc sức khoẻ của nhân dân. Hệ thống thương nghiệp quốc doanh được thành lập với 7 cửa hàng lớn đặt ở 7 trung tâm huyện lỵ và 5 tổ bán hàng ở các xã vùng cao biên giới....Đồng thời tiếp tục đấu tranh phá tan âm mưu xưng vua của tên Nhé Gia -  dân tộc Mông (tại xã Pù Nhi năm 1957) và vụ bạo loạn do Vi Văn Sếnh - dân tộc Thái cầm đầu (tại xã Quang Chiểu năm 1958), giữ vững biên cương Tổ quốc.

Thực hiện cuộc vận động hợp tác hoá nông nghiệp kết hợp với hoàn thành cải cách dân chủ, nhằm hoàn thành cách mạng dân chủ ở miền núi và đưa miền núi từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Với quyết tâm cao và biện pháp linh hoạt, đến cuối năm 1960 các huyện miền núi đã xây dựng được 984 hợp tác xã nông nghiệp quy mô chòm bản, cơ bản hoàn thành cuộc vận động, tạo ra động lực mới thúc đẩy kinh tế - xã hội miền núi phát triển.

3. Ban Chỉ đạo công tác miền Tây (1961 - 1968)

Tháng 5 năm 1961 Ban Thường vụ tỉnh uỷ quyết định giải thể Ban Cán sự miền Tây và UBHC đặc biệt miền thượng du, thành lập “Ban Chỉ đạo công tác miền Tây” (Ban miền Tây) với chức năng tham mưu cho tỉnh chỉ đạo các huyện miền núi thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, giữ vững biên cương Tổ quốc.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh uỷ và UBHC tỉnh, Ban miền Tây đã nhanh chóng cùng đảng bộ và chính quyền các huyện miền núi phát động "Phong trào 3 nhất". Trong một thời gian ngắn, phong trào khai hoang, làm thuỷ lợi, phong trào thâm canh, trồng rừng, khai thác lâm sản đã diễn ra sôi nổi khắp bản làng, từ vùng thấp đến vùng cao, sản xuất  nông - lâm nghiệp, y tế, giáo dục tiếp tục đạt được những kết quả mới. Miền núi không những không phải nhận viện trợ lương thực từ miền xuôi lên mà còn làm nghĩa vụ cho nhà nước hàng năm (1961- 1965) hàng chục nghìn tấn và khai thác lâm sản bán cho nhà nước hàng năm hàng nghìn m3 gỗ, hàng triệu cây luồng,v.v... núi rừng miền tây đã bừng lên những điển hình tiên tiến mới trong công tác làm thuỷ lơi, khai hoang, thâm canh, trồng rừng,v.v…. Các đoàn thể chính trị: Mặt trận tổ quốc, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, các đội dân quân được củng cố. Đây là lực lượng quan trọng giúp sức phá tan tổ chức phản động Lường Mạnh Huân và biệt kích nhảy dù xuống huyện Quan Hóa đầu năm 1963, tiếp tục giữ vững an ninh vùng dân tộc miền núi.

Lãnh đạo Ban thời kỳ này là các ông:  Năm 1961, Trưởng ban là ông Hoàng Sỹ Thuông (Thường vụ Tỉnh ủy); Phó Trưởng ban là các ông: Hà Văn Miêng- Phó ban trực, Lưu Trần Nhuệ. Từ năm 1962 - 1964, Trưởng ban là ông Trịnh Thuân (Thường vụ Tỉnh ủy). Từ năm 1965 - 1968, Trưởng ban là ông Hoàng Hữu Nhờn (Thường vụ Tỉnh ủy); Phó Trưởng ban là ông Quách Quang Bảo.

4. Ban Dân tộc và Định canh định cư (1969 - 1991)

Trước yêu cầu mới của nhiệm vụ cách mạng, Tỉnh ủy quyết định giải thể Ban Chỉ đạo công tác miền Tây và ra Quyết định số 28 - QĐ/TU (tháng 2 - 1969) về thành lập Ban Dân tộc. Về mặt Nhà nước, Ủy ban Hành chính tỉnh ra quyết định thành lập Ban Định canh định cư để trực tiếp chỉ đạo việc thực hiện Nghị quyết 38/CP ngày 12-3-1968 của Chính phủ về công tác định canh, định cư kết hợp với hợp tác hóa đối với đồng bào dân tộc còn du canh, du cư. Hai Ban này do 01 đồng chí làm Trưởng ban để tham mưu cho tỉnh làm công tác dân tộc của Đảng và công tác định canh định cư.

Dưới sự chỉ đạo của Ban Dân tộc - Ban Định canh định cư tỉnh, phong trào định canh, định cư và phong trào trồng luồng giai đoạn này đã đem lại những kết quả to lớn và có ý nghĩa về chính trị và kinh tế. Các huyện đã khai hoang được 4.676 ha đất canh tác, trong đó có 2.343 ha ruộng lúa nước, làm được 789km đường giao thông (có gần một nửa là đường ô tô), 11 cầu treo, 32 trường học, 39 trạm xá, 37 giếng nước. Đến hết năm 1982, toàn vùng đã trồng được 44.386 ha luồng (tính đến nay toàn tỉnh có trên 71.000 ha luồng). Với thành tích của công cuộc trồng luồng, ngày 22-12-1969, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã vào rừng luồng hợp tác xã Ngọc Liên (Ngọc Lặc). Ngày 19-5-1973 Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi thư cho Ban Dân tộc tỉnh với nội dung “Đẩy mạnh công cuộc trồng luồng, làm cho Tổ quốc hùng cường xanh tươi” và nhấn mạnh “Đây là công trình rất đáng làm, vì lợi ích rất to lớn của nó lợi ích về nhiều mặt, đồng thời là tấm gương sáng cho nhiều nơi khác” và khẳng định: “Đánh Mỹ ta đã thắng, trồng luồng ta cũng nhất định thắng”.

 Với chức năng và nhiệm vụ của mình, Cơ quan công tác dân tộc của tỉnh, tiếp tục thực hiện có hiệu quả những chủ trương và đường lối dân tộc của Đảng. Từ kết quả tác động của các chính sách dân tộc, nên vùng miền núi từ chỗ thiếu ăn triền miên, đã vươn lên đáp ứng đáp ứng một phần lương thực, thực phẩm, sản xuất, đời sống nhân dân tiếp tục được nâng lên, văn hoá - xã hội trong vùng có bước phát triển mới, góp góp phần quan trọng vào thực hiện các các mục tiêu kinh tế - xã hội của tỉnh. Có thể nói đây là giai đoạn sôi động nhất của hoạt động công tác dân tộc về thực hiện công cuộc phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc miền núi.

Lãnh đạo Ban Dân tộc - Định canh, định cư thời kỳ này: Từ năm 1969 - 1975, Trưởng ban là ông Hà Văn Ban (Thường vụ Tỉnh ủy); Phó Trưởng ban là các ông: Quách Quang Bảo, Tôn Viết Nghiệm, Vi Văn Êu. Từ năm 1976 - 1980, Trưởng ban là ông Phạm Văn Nhung (Thường vụ Tỉnh ủy); Phó Trưởng ban là các ông: Quách Quang Bảo, Vi Văn Êu, Bùi Văn Định, Bùi Văn Thái, Phạm Xuân Liêm.  Từ tháng 11/1981 - 12/1988, Trưởng ban là ông Lương Chí Ên (Tỉnh ủy viên); Phó Trưởng ban là các ông: Quách Quang Bảo, Bùi Văn Thái, Phạm Xuân Liêm, Cao Xuân Tỉnh, Quách Minh Hải. Từ tháng 01/1989 - 12/1991, Phó Trưởng ban phụ trách là ông Cao Xuân Tỉnh; Phó Trưởng ban là các ông: Quách Minh Hải, Lê Nai.

5. Ban Miền núi và Dân tộc (1992- 1998)

Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của công tác dân tộc trong thời kỳ đổi mới và theo chủ trương của Trung ương tăng cường kiện toàn tổ chức cơ quan công tác dân tộc. Ngày 11/7/1992 theo Quyết định số 951 - TC/UBTH của UBND tỉnh, Ban Dân tộc và Miền núi được thành lập trên cơ sở thống nhất Ban Dân tộc và Định canh định cư với Văn phòng Miền núi và Dân tộc thuộc UBND tỉnh.  Với chức năng, nhiệm vụ tham mưu cho tỉnh về thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở miền núi, các chương trình ĐCĐC, chư­ơng trình vùng cao…

Giai đoạn này,Trung ương và Tỉnh có nhiều chủ trương, chính sách quan trọng đối với vùng dân tộc và miền núi như Nghị quyết 22 của Bộ chính trị, Quyết định 72/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) và Nghị quyết 21 của Tỉnh uỷ về phát triển kinh tế - xã hội miền núi; Chương trình định canh, định cư có bước thay đổi quan trọng, từ tổ chức vận động sang thực hiện theo dự án; Chương trình 06/CP (thôi trồng cây thuốc phiện); Chương trình hỗ trợ dân tộc đặc biệt khó khăn,v.v.. Ban Miền núi và Dân tộc đã tập trung chỉ đạo xây dựng được 37 dự án ĐCĐC, 6 dự án trung tâm cụm xã,  1 dự án hỗ trợ dân tộc đặc biệt khó khăn và các dự án về chuyển đổi cây trồng thay thế cây thuốc phiện.

Công tác dân tộc tiếp tục đạt được những thành tựu mới: Đến năm 1998 đã cơ bản định canh định cư cho 33/68 xã; chỉ đạo giải quyết tình hình dân di cư tự do, tổ chức di chuyển và ổn định được 50% số hộ di cư tự do; Chương trình phá bỏ cây thuốc phiện, tuy rất khó khăn phức tạp, nhưng ngay từ năm đầu triển khai thực hiện (1992) nhờ giáo dục, thuyết phục và vận động tốt, nên gần 883 hộ dân tộc Mông xã Pù Nhi, Quang Chiểu (huyện Mường Lát) đã phá nhổ 623,5 ha (gần 70% diện tích trồng), diện tích tái trồng các năm sau giảm dần và không còn; dự án hỗ trợ dân tộc đặc biệt khó khăn đã thực hiện di chuyển 39 hộ, trên 200 khẩu dân tộc Khơ Mú bản Đoàn Kết, xã Tén Tằn (huyện Mường Lát) ra nơi quy hoạch mới, đảm bảo định canh, định cư lâu dài.

Lãnh đạo Ban Dân tộc giai 1992 -1998:  Trưởng ban là ông Trương Văn Huy (Tỉnh ủy viên); Phó Trưởng ban là các ông: Cao Xuân Tỉnh, Phạm Quang Thẩm, Hà Văn Thương, Lê Nai.

6. Ban Dân tộc và Miền núi (1999- 2004)

Từ tháng 7/1998 Ban Miền núi và Dân tộc chuyển giao nhiệm vụ định canh định cư cho Chi cục Định canh định cư và Vùng kinh tế mới tỉnh theo Quyết định số 761/1998/QĐ-TC-UB về thành lập Chi cục định canh định cư và Vùng kinh tế mới tỉnh Thanh Hóa. Đến ngày 18/12/1998  đổi tên thành Ban Dân tộc và Miền núi theo Quyết định số 2805/QĐ-UB của UBND tỉnh. Với chức năng, nhiệm vụ: Tham mưu cho tỉnh về thực hiên chính sách dân tộc ở miền núi, theo dõi chỉ đạo chương trình Trung tâm cụm xã, chương trình 06/CP, Trợ giá trợ cước,  chương trình 135...

Giai đoạn này bắt đầu triển khai thực hiện Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa (Chương trình 135). Ban Dân tộc và Miền núi tiếp tục theo dõi chỉ đạo các chương trình, dự án Trung tâm cụm xã, Chương trình 06/CP; trợ giá, trợ cước… đặc biệt tập trung ngay vào việc triển khai Chương trình 135 (giai đoạn 1). Kết quả 5 năm thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ của Chương trình 135 và các chính sách dân tộc đã tác động sâu sắc và toàn diện đến đời sống mọi mặt vùng đồng bào dân tộc và miền núi: Cơ sở hạ tầng được hình thành và cải thiện rõ rệt; trình độ cán bộ cơ sở được nâng lên một bước đáng kể; hệ thống chính trị được tăng cường; diện mạo nông thôn miền núi thay đổi và phát triển nhanh chóng. Nhiệm vụ của Ban Dân tộc và Miền núi tiếp tục giữ vị trí quan trọng đối với vùng miền núi và dân tộc tỉnh Thanh Hóa.

Lãnh đạo Ban Dân tộc và miền núi thời kỳ này: Từ tháng 01/1999 - 3/2000, Trưởng ban là ông Trương Văn Huy (Tỉnh ủy viên); Phó Trưởng ban là các ông: Phạm Quang Thẩm, Lê Văn Nhàn, Vi Văn Ngơn. Từ năm 4/2000 - 12/2004, Trưởng ban là ông Lê Văn Nhàn (Tỉnh ủy viên); Phó Trưởng ban là các ông: Phạm Quang Thẩm, Trần Ngọc Thiện, Phạm Văn Thư.

7. Ban Dân tộc tỉnh Thanh Hóa (từ tháng 1/ 2005 đến nay)

Trước những đòi hỏi của thực tiễn sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi theo đường lối đổi mới, Chính phủ ban hành Nghị định số 53/2004/NĐ-CP ngày 18-2-2004 về kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác dân tộc thuộc UBND các cấp. Từ tháng 01/2005 đến nay, bộ phận Định canh định cư sát nhập trở lại, Ban Dân tộc và Miền núi được đổi tên thành Ban Dân tộc, theo Quyết định 3920/QĐ-CT ngày 07/12/2004 của UBND tỉnh. Với chức năng, nhiệm vụ:  Tham mưu giúp UBND tỉnh quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác Dân tộc trên địa bàn tỉnh,  thực hiện 21 nhiệm vụ được quy định tại Thông tư  Liên tịch số 246/2004/TTLT-UBDT-BNV ngày 06/5/2004  của Ủy ban Dân tộc và Bộ Nội vụ; với 4 phòng chuyên môn và 30 công chức. Đến năm 2011, theo Quyết định số 3572/QĐ-UBND ngày 18/10/2011 của UBND tỉnh, Ban Dân tộc có chức năng tham mưu giúp UBND tỉnh quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác Dân tộc trên địa bàn tỉnh, thực hiện 15 nhiệm vụ được quy định tại Thông tư  Liên tịch số 04/2010/TTLT-UBDT-BNV ngày 17/9/2010 của Ủy ban Dân tộc và Bộ Nội vụ; với 4 phòng chuyên môn và 30 công chức. Đến năm 2015, theo quy định tại Thông tư số 07/2014/TTLT-UBDT-BNV ngày 22/12/2014 của liên bộ: Ủy ban Dân tộc – Bộ Nội vụ, Ban Dân tộc tham mưu cho UBND tỉnh thực hiện 18 nhiệm vụ công tác dân tộc. Các phòng chức năng tham mưu gồm có: Văn phòng; Thanh tra; phòng Chính sách và Tuyên truyền; phòng Kế hoạch – Tổng hợp; và 30 công chức.

Trong thời kỳ này hệ thống các văn bản pháp lý về lĩnh vực công tác dân tộc được ban hành đồng bộ, nhằm tăng cường công tác dân tộc như: Chỉ thị 1971/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cương công tác dân tộc thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Chỉ thị số 28/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về công tác dân tộc, Quyết định số 449/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020,  đặc biệt Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ vê Công tác dân tộc, là văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất của Nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc.

Thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, Ban Dân tộc tiếp tục chủ động, tích cực phối hợp với các Sở, ban, ngành tham mưu cho tỉnh cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thực hiện tốt công tác quản lý, chỉ đạo thực hiện các chương trình, dự án, chính sách dân tộc, như: Chương trình 135; Chương trình trung tâm cụm xã; Dự án định canh định cư; Chương trình trợ giá trợ cước; Chương trình hỗ trợ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn; Chính sách hỗ trợ nhà ở, đất ở, đất sản xuất và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn; Chính sách vay vốn phát triển sản xuất; Chính sách cấp một số loại báo, tạp chí cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn; Chính sách hỗ trợ trực tiếp cho hộ nghèo; Chính sách cho người có uy tín trong đồng bào các dân tộc thiểu số...

Cùng với việc tham mưu cho UBND tỉnh chỉ đạo thực hiện các chương trình, dự án, chính sách dân tộc của Trung ương, Ban Dân tộc đã tích cực tham mưu cho UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh xây dựng các chương trình, đề án, dự án về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng dân tộc miền núi, như: Dự án ổn định sản xuất, đới sống và Phát triển kinh tế-xã hội đồng bào Mông tỉnh Thanh Hóa đến năm 2010; Dự án bố trí sắp xếp, ổn định dân cư các xã biên giới đến năm 2010; Đề án phát triển kinh tế-xã hội các bản Mông, Dao, Khơ Mú đặc biệt khó khăn; Dự án định canh định cư bản suối Tôn, xã Phú Sơn, huyện Quan Hóa; Dự án định canh định cư bản Buốc Hiềng, xã Trung Thành, huyện Quan Hóa; Đề án Tuyên truyền thực hiện nếp sống văn hóa trong tang lễ vùng đồng bào dân tộc Mông tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020; Đề án phát triển cây trồng vật nuôi có lợi thế cho sản phẩm đặc sản trên địa bàn 11 huyện miền núi; Đề án ổn định sản xuất, đời sống và phát triển kinh tế-xã hội các bản dân tộc Mông huyện Quan Sơn, giai đoạn 2016-2020; Đề án Bảo tồn phát triển nghề, làng nghề truyền thống vùng dân tộc thiểu số tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2016-2020; Đề án chính sách hỗ trợ giảm nghèo cho các xã có tỷ lệ hộ nghèo cao vùng miền núi không năm trong danh sách xã đặc biệt khó khăn (Chương trình 135), giai đoạn 2016-2020; Đề án giảm thiểu tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020; Đề án ổn định đời sống và phát triển kinh tế-xã hội đồng bào Khơ Mú tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020; Đề án “Xây dựng điểm điển hình giảm nghèo nhanh và bền vững trên địa bàn các huyện nghèo tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2016-2020”... Tham mưu cho Chủ tịch UBND tỉnh xây dựng các kế hoạch triển khai thực hiện các dự án, đề án.

Ngoài ra, với chức năng là cơ quan thường trực, Ban Dân tộc đã tham mưu cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình phát triển kinh tế-xã hội miền Tây, Nghị quyết số 09-NQ/TU về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giảm nghèo nhanh và bền vững ở các huyện miền núi Thanh Hóa đến năm 2020 và phát triển kinh tế-xã hội vùng dân tộc và miền núi của tỉnh, theo Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa, lần thứ XVII.

Kết quả công tác dân tộc giai đoạn này đã thu được những thành tựu mới rất quan trọng  góp phần làm thay đổi diện mạo nông thôn miền núi, đời sống mọi mặt của đồng bào các dân tộc được cải thiện và nâng lên rõ rệt. Hằng năm số hộ nghèo giảm nhanh; cơ sở hạ tầng được đầu tư nâng cấp đáng kể, các tuyến đường, các cầu lớn đến trung tâm các huyện, xã miền núi được đầu tư với số lượng lớn, các nhà máy thủy điện, các công trình thủy lợi lớn được khởi công xây dựng, hệ thống bệnh viện, trường học được đầu tư phát triển; thực hiện các chương trình, dự án, chính sách dân tộc và các chương trình, dự án, chính sách khác đã góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, nâng cao dân trí cải thiện một bước vật chất và tinh thần cho nhân dân các dân tộc. Trong 5 năm gần đây kinh tế miền núi có tốc độ tăng trưởng khá, đạt 10,4%/năm; cơ cấu kinh tế được dịch chuyển theo hướng tích cực, thu nhập bình quân đầu người đạt 1.005 USD, tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 5%/năm.

Hệ thống chính trị các cấp được củng cố, đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số được tăng cường cả về số lượng và chất lượng chuyên môn nghiệp vụ. Tỷ lệ cán bộ dân tộc thiểu số trong các cơ quan đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội ngày càng được nâng lên.

Công tác giáo dục và đào tạo ở vùng miền núi dân tộc đạt được những kết quả quan trọng. Các địa phương vùng miền núi dân tộc đã hoàn thành xóa mù chữ và phổ cập tiểu học, đang tiến tới hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở.

Công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bào các dân tộc được chú trọng, người dân tộc thiểu vùng đặc biệt khó khăn, người nghèo được cấp bảo hiểm y tế, khám chữa bệnh miễn phí. Cơ sở khám chữa bệnh được đầu tư xây dựng, tăng cường trang thiết bị y tế và đội ngũ cán bộ chuyên môn đáp ứng nhu cầu, chăm sóc, bảo vệ sức khỏe của đồng bào các dân tộc.

Văn hóa tryền thống các dân tộc được tôn trọng, gìn giữ và phát huy. Nhiều ngày hội văn hóa các dân tộc trong tỉnh được tổ chức định kỳ. Đời sống văn hóa, tinh thần của đồng bào các dân tộc được nâng lên rõ rệt, trên 85% hộ được xem truyền hình, 95% hộ gia đình được nghe đài phát thanh. 100% số xã có điểm bưu điện - văn hóa xã.

Lãnh đạo Ban Dân tộc tỉnh Thanh Hóa: Từ tháng 1/2005 - 6/2007, Trưởng ban là ông Lê Văn Nhàn (ỉnh ủy viên); Phó Trưởng ban là các ông: Phạm Quang Thẩm, Trần Ngọc Thiện, Phạm Văn Thư. Từ tháng 7/2007 - 10/2008, Quyền Trưởng ban là ông Phạm Quang Thẩm; Phó Trưởng ban là các ông: Trần Ngọc Thiện, Phạm Văn Thư, Cầm Bá Tường. Từ tháng 11/2008 - 11/2010, Trưởng ban ông Phạm Văn Phượng (Tỉnh ủy viên); Phó Trưởng ban là các ông: Trần Ngọc Thiện; Bùi Văn Huy; Phạm Văn Thư; Cầm Bá Tường. Từ tháng 12/2010 - tháng 7/2011, Trưởng ban là ông Phạm Đăng Quyền (Tỉnh ủy viên); Phó Trưởng ban là các ông: Trần Ngọc Thiện; Bùi Văn Huy; Cầm Bá Tường. Từ tháng 7/2011, Trưởng ban là ông Lương Văn Tưởng (Tỉnh ủy viên); Phó Trưởng ban gồm các ông: Trần Ngọc Thiện; ông Bùi Văn Huy; ông Cầm Bá Tường; ông Lương Văn Bường; ông Tạ Hồng Hải; ông Vi Xuân Hiệp.

Từ Ủy ban hành chính đặc biệt miền thượng du tỉnh Thanh Hóa đến Ban Dân tộc tỉnh Thanh Hóa hôm nay – một chặng đường 70 năm lịch sử – Cơ quan công tác dân tộc tỉnh Thanh với nhiều tên gọi khác nhau, nhưng rất đáng tự hào trong quá trình phấn đấu và trưởng thành của mình. Với những thành tựu đạt được, Ban Dân tộc Thanh Hoá đã vinh dự được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba; Huân chương Độc lập hạng Ba, hạng Nhì và nhiều phần thưởng cao quí khác cho tập thể và cá nhân, đây là sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước, sự ghi nhận công lao, cống hiến và sự cổ vũ, động viên to lớn đối với các thế hệ cán bộ làm công tác dân tộc qua các thời kỳ.

Chặng đường 70 năm qua (1947 - 2017), công tác dân tộc đã góp phần xứng đáng vào những thành tựu chung của tỉnh Thanh Hóa. Những thành tựu đạt được hơn 7 thập kỷ phấn đấu anh dũng, vẻ vang của nhân dân các dân tộc và các thế hệ làm công tác dân tộc đã trở thành hành trang quý báu của Ban Dân tộc tỉnh Thanh Hóa trên con đường đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, góp phần đưa tỉnh Thanh Hóa thực hiện thành công nghị quyết Đại hội  Đảng toàn quốc lần thứ XII và Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII.

HH-BDT